Phương pháp để chọn trang sức đá phong thủy theo bát tự – P1

Phương pháp chọn quý theo – P1

I. SẮP XẾP BÁT TỰ
Bước thứ nhất: sắp xếp niên trụ

Lấy thiên can và địa chi của năm âm lịch, lần lượt viết lên một trang giấy là được. Cần tra cứu lịch vạn niên để biết được can chi của năm đó.

Nhưng nếu người này sinh vào năm trước thì phải tiến hành phân tích một chút. Bạn nên nhớ, khi suy đoán theo bát tự, lấy mùa xuân làm thời điểm bắt đầu một năm mới.

Ví dụ như, một người nào đó sinh vào ngày 29 tháng 1 năm 2006, vừa đúng vào ngày mùng 1 tháng giêng năm Tuất. Bình thường, chúng ta sẽ tiến hành sắp xếp theo âm lịch, gọi người này là người tuổi Tuất. Nhưng khi sắp xếp theo bát tự, người này lại không phải thuộc tuổi Tuất mà là tuổi Dậu. Bởi vì, thời gian Lập xuân của năm nay là giờ Thìn ngày mùng 7 tháng giêng, trước giờ Thìn ngày 7 tháng giêng đều thuộc năm Ất Dậu; bắt đầu từ ngày mùng 7 tháng giêng mới được tính chính thức là bắt đầu bước vào năm Bính Tuất.

Ngày lập xuân là gì: Lập xuân là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cổ đại. Nó là một trong số hai mươi tư tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Ngày nay, ngày bắt đầu tiết Lập xuân được tính theo dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày mùng 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch tùy theo từng năm. Như vậy, trở lại với ví dụ trên, ngày tiết lập xuân của năm 2006 là ngày 4/2/2006 dương lịch, tra theo Lịch vạn niên nhằm ngày 7 tháng giêng năm 2006 âm lịch.

Bước thứ hai: Sắp xếp nguyệt trụ

Sắp xếp nguyệt trụ bát tự không thể hoàn toàn theo Thiên can tháng của lịch vạn niên được mà phải lấy 24 tiết khí làm căn cứ quan trọng. Đó cũng chính là từ Lập xuân cho tới Vũ thủy 30 ngày này là tháng 1; Kinh trập với Xuân phân 30 ngày là tháng 2…, những tháng còn lại cũng theo đó mà bố trí. Ví dụ như người sinh vào ngày mùng 5 tháng 3 năm 2006, theo Âm lịch là ngày mùng 6 tháng 2 năm Bính Tuất. Xét về thời gian mà nói, người này tương ứng sinh vào tháng 2, nguyệt trụ tương ứng là tháng Tân Mão theo Âm lịch. Nhưng trên thực tế lại không phải như vậy. Bởi từ thời gian tiết khí âm lịch mà nói, ngày 4 tháng 3 thuộc thời hạn từ Lập xuân tới Vũ thủy; sau ngày 7 tháng 3 mới bắt đầu bước vào tháng 2 Kinh trập tới Xuân phân. Vì vậy, người này thực sự sinh vào tháng giêng, nguyệt trụ của họ tương ứng với Canh Dần.

Khi sắp xếp nguyệt trụ, nếu chỉ biết là sinh vào tháng nào mà không biết Thiên can là gì thì có thể thông qua cuốn Ngũ hổ tuần khẩu quyết để giải quyết mà không cần hoàn toàn dựa vào Lịch vạn niên.

Tháng sinh

Thiên can

Năm
Giáp, Kỷ

Năm
Ất, Canh

Năm
Bính, Tân

Năm
Đinh, Nhâm

Năm

Mậu, Quý

Tháng giêng

Bính Dần

Mậu Dần

Canh Dần Nhâm Dần
Giáp Dần

Tháng 2

Đinh Mão Kỷ Mão Tân Mão Quý Mão
Ất Mão

Tháng 3

Mậu Thìn Canh Thìn Nhâm Thìn Giáp Thìn
Bính Thìn

Tháng 4

Kỷ Tỵ Tân Tỵ Quý Tỵ Ất Tỵ
Đinh Tỵ

Tháng 5

Canh Ngọ Nhâm Ngọ Giáp Ngọ Bính Ngọ
Mậu Ngọ

Tháng 6

Tân Mùi Quý Mùi Ất Mùi Đinh Mùi
Kỷ Mùi

Tháng 7

Nhâm Thân Giáp Thân Bính Thân Mậu Thân
Canh Thân

Tháng 8

Quý Dậu Ất Dậu Đinh Dậu Kỷ Dậu
Tân Dậu

Tháng 9

Giáp Tuất Bính Tuất Mậu Tuất Canh Tuất
Nhâm Tuất

Tháng 10

Ất Hợi Đinh Hợi Kỷ Hợi Tân Hợi
Quý Hợi

Tháng 11

Bính Tý Mậu Tý Canh Tý Nhâm Tý
Giáp Tý

Tháng chạp

Đinh Sửu Kỷ Sửu Tân Sửu Quý Sửu
Ất Sửu

Bước thứ ba: Sắp xếp nhật trụ

Sắp xếp nhật trụ là phần đơn giản nhất trong bát tự. Bởi vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm sinh ra của mình, trực tiếp tra trên lịch vạn niên là có thể biết được rồi. Vì vậy, bất luận là chỉ biết ngày sinh của âm lịch cũng sẽ biết được ngày sinh của dương lịch, chỉ cần ngày đó là chính xác thì có thể tìm thấy can chi một cách dễ dàng.

Bước thứ tư: Sắp xếp thời trụ

Sắp xếp thời trụ sẽ phức tạp hơn nhật trụ rất nhiều. Bởi vì thời trụ không thể tra được từ lịch vạn niên được. Chỉ có thể dựa vào bí quyết của mình mà tính ra. Trước tiên, chúng ta phải biết được mối quan hệ đối ứng của 12 Địa chi và 24 giờ. Giờ Tý là từ 11 giờ tới 1 giờ đêm, giờ Sửu là 1 giờ tới 3 giờ, giờ Dần đại diện cho từ 3 giờ tới 5 giờ, các giờ còn lại lần lượt suy ra. Như vậy, chúng ta chỉ cần biết được thời gian sinh ra cụ thể là có thể biết được Địa chi thời trụ rồi.

Giờ sinh

Thời trụ

Năm
Giáp, Kỷ

Năm
Ất, Canh

Năm
Bính, Tân

Năm
Đinh, Nhâm

Năm

Mậu, Quý

Giờ Tý

Giáp Tý Bính Tý Mậu Tý Canh Tý Nhâm Tý
Giờ Sửu

Ất Sửu Đinh Sửu Kỷ Sửu Tân Sửu
Quý Sửu

Giờ Dần Bính Dần Mậu Dần Canh Dần Nhâm Dần
Giáp Dần

Giờ Mão

Đinh Mão Kỷ Mão Tân Mão Quý Mão Ất Mão
Giờ Thìn Mậu Thìn Canh Thìn Nhâm Thìn Giáp Thìn
Bính Thìn

Giờ Tỵ

Kỷ Tỵ Tân Tỵ Quý Tỵ Ất Tỵ Đinh Tỵ
Giờ Ngọ Canh Ngọ Nhâm Ngọ Giáp Ngọ Bính Ngọ
Mậu Ngọ

Giờ Mùi

Tân Mùi Quý Mùi Ất Mùi Đinh Mùi Kỷ Mùi
Giờ Thân Nhâm Thân Giáp Thân Bính Thân Mậu Thân
Canh Thân

Giờ Dậu

Quý Dậu Ất Dậu Đinh Dậu Kỷ Dậu Tân Dậu
Giờ Tuất Giáp Tuất Bính Tuất Mậu Tuất Canh Tuất
Nhâm Tuất

Giờ Hợi

Ất Hợi Đinh Hợi Kỷ Hợi Tân Hợi
Quý Hợi

Nếu cộng thêm Thiên can tương ứng cho Địa chi của thời trụ thì phải hoàn thành thông qua Ngũ thử tuần khẩu quyết như sau:

Giáp Tỵ hoàn gia Giáp, Ất Canh Bính tác sơ,

Bính Tân tòng Mậu khởi, Sinh Nhâm Canh Tý thuộc,

Mậu Quý hà phương phát, Nhâm Tý thị chân đồ.

Có nghĩa là ngày Giáp hoặc ngày Kỷ thì giờ Tý kết hợp với Giáp, Giờ Sửu kết hợp với Ất, giờ Dần kết hợp với Bính, cứ lần lượt như thế mà sắp xếp; ngày Ất và ngày Canh thì giờ Tý kết hợp với Bính, giờ Sửu kết hợp với Đinh, giờ Dần kết hợp với Mậu. Các giờ còn lại được sắp xếp tương tự.

Trải qua 4 bước như trên, bạn đã có một mệnh bàn bát tự, để có thể tiến hành vận đoán.

Ngụ ý của tứ trụ:

Tứ trụ chính là năm tháng ngày giờ, chúng ta lần lượt đối ứng với các giai đoạn của đời người từ nhỏ, đến trưởng thành, trung niên, già hoặc ông bà, cha mẹ, bản thân, con cái. Nếu áp vào cây cối thì nó ứng với gốc, thân, hoa, quả.

Ngụ ý của tứ trụ
Nếu áp vào cây cối, thì nó ứng với gốc, thân, hoa, quả
Niên trụ: về già – ông bà – gốc cây (căn).

Nguyệt trụ: trưởng thành – cha mẹ – thân cây.

Nhật trụ: trung niên – bản thân – hoa.

Thời trụ: còn nhỏ – con cháu – quả.

Bát tự và quan hệ đối ứng với người trong một nhà:

Trong bát tự, chúng ta có thể tiến hành phân tích để tìm được các thông tin của người thân: Ông bà, cha mẹ, anh em, vợ con. Ngoài ra, có thể biết được quá trình phát triển của bản thân từ lúc ra đời đến khi mất.

Bát tự

Niên trụ Nguyệt trụ Nhật trụ Thời trụ
Niên can:
Ông nội

Niên chi:

Bà nội

Nguyệt can:
Cha

Nguyệt chi:

Mẹ

Nhật can:
Mệnh chủ

Nhật chi:

Vợ hoặc chồng

Thời can:

Con trai

Thời chi:

Con gái

Giai đoạn

Về già Trung niên Trưởng thành
Ra đời

Niên can: Niên trụ đại diện cho tổ tiên, niên can ở ngoài thì đại diện cho ông nội.

Niên chi: Ở trong thì đại diện cho bà nội.

Nguyệt can: Nguyệt can đại diện cho cha.

Nguyệt chi: Nguyệt chi đại diện cho mẹ.

Nhật can: Nhật can đại diện cho bản thân, là trung tâm của toàn bộ bát tự.

Nhật chi: Nhật chi là đại diện cho hôn phối, do đó có thể gọi là cung phu thê.

Thời can: Thời can đại diện cho con trai

Thời chi: Thời chi đại diện cho con gái.

II. MỐI QUAN HỆ GIỮA THIÊN CAN VÀ ĐỊA CHI TRONG BÁT TỰ
Trong bát tự thì thiên can của nhật trụ (gọi tắt là nhật can) khá đặc thù, có thể lý giải là hạt nhân của bản thân. Các can chi khác sau khi tác dụng với nó sẽ hình thành “Thập thần”.

Thuộc tính âm dương của Thiên can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương. Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm.

Thuộc tính Ngũ hành của Thiên can: Giáp, Ất là Mộc; Bính, Đinh là Hỏa; Mậu, Kỷ là Thổ; Canh, Tân là Kim; Nhâm, Quý là Thủy.

Cái sinh ra bản thân ta là Kiêu Ấn: Khác tính tương sinh là Chính ấn, đồng tính tương sinh là Kiêu thần.
Cái mà bản thân ta sinh ra là Thực Thương: Khác tính tương sinh là Thương quan, đồng tính tương sinh là Thực thần.
Cái mà ngang bằng với ta là Tỷ Kiếp: Đồng tính tương trợ là Tỷ kiên, khác tính tương trợ là Kiếp tài.
Cái khắc bản thân ta là Quan sát: Khác tính tương khắc là Chính quan, đồng tính tương khắc là Thất sát.
Cái mà ta khắc là Tài: Khác tính tương khắc là Chính tài, đồng tính tương khắc là Thiên tài.
Ví dụ như trong bát tự của một người có nhật can Mậu Thổ là Thổ dương, nguyệt can Kỷ thổ là Thổ âm. Ngũ hành giống nhau, tính âm dương ngược nhau, do đó Kỷ Thổ là Kiếp tài của Mậu Thổ. Mậu Thổ của niên can và Mậu Thổ của nhật can giống nhau, do đó là Tỷ kiên. Bính Hỏa của thời can là Hỏa dương, do đó là Kiêu thần của nhật can Mậu Thổ.

Quan hệ Thập thần của nhật can và Địa chỉ khá phức tạp do trong mỗi Địa chi ẩn tàng 1 đến 3 Thiên can. Thuộc tính Thập thần dựa vào những Thiên can ẩn tàng này để xác định. Nếu trong Địa chi nào đó chỉ ẩn tàng 1 Thiên can gọi là bản khí, ẩn tàng 2 Thiên can thì phân thành bản khí và trung khí, ẩn tàng 3 Thiên can thì phân thành bản khí, trung khí và dư khí. Nếu trong 1 địa chi có bản khí, trung khí và dư khí, lực lượng của bản khí chiếm 6 phần, trung khí chiếm 3 phần còn dư khí chiếm 1 phần. Nếu trong 1 Địa chi chỉ có bản khí và trung khí thì bản khí chiếm 7 phần, trung khí chiếm 3 phần. Nếu chỉ có bản khí thì bản khí chiếm 10 phần. Sự phức tạp của Bát tự học có quan hệ lớn đến Địa chi ẩn tàng can.

Thông biến của năm Thiên can dương, chỉ là 5 can dương “Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm” khi gặp phản ứng và cát hung của Thiên can khác. Hai thiên can gặp nhau “Ngũ hành khắc ta là Chính quan thiên quan, Ngũ hành sinh ta là Chính ấn Thiên ấn, Ngũ hành mà ta khắc là Chính tài Thiên tài, Ngũ hành mà ta sinh là Thương quan Thực thần, Ngũ hành giống ta là Kiếp tài, Tỷ kiên”.”Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm” của hàng thứ nhất là trọng tâm của 11 hàng này.

Khi 5 can dương kết hợp với giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm của hàng thứ hai là Tỷ kiên, anh em, bạn bè, tức “dương dương tương trợ”.

Khi 5 can dương kết hợp với “Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý” của hàng thứ 3 là Kiếp tài, khắc cha và vợ, tức “Âm dương tương trợ”.

Khi 5 can dương kết hợp với “Bính, Mậu, Canh, Nhâm, Giáp” của hàng thứ 4 là Thực thần, con gái, tức “dương sinh dương”.

Khi 5 can dương kết hợp với “Đinh, Kỷ, Tân, Quý, Ất” của hàng thứ 5 là Thương quan, con gái là “dương sinh âm”.

Từ trên chúng ta có bảng về mối quan hệ giữa nhật can với các Thiên can còn lại trong tứ trụ như sau:

Nhật can

Thiên can các trụ còn lại

Cái giống ta Cái do ta sinh Cái bị ta khắc Cái giống ta
Sinh ta ra

Đồng tính

Dị tính Đồng tính Dị tính Đồng tính Dị tính Đồng tính Dị tính Đồng tính Dị tính
Tỷ kiên Kiếp tài Thực thần Thương quan Thiên tài Chính tài Thất sát Chính quan Thiên ấn
Chính ấn

Giáp

Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Ất Ất Giáp Đinh Bính Kỷ Mậu Tân Canh Quý
Nhâm

Bính

Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất
Đinh Đinh Bính Kỷ Mậu Tân Canh Quý Nhâm Ất
Giáp

Mậu

Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Kỷ Kỷ Mậu Tân Canh Quý Nhâm Ất Giáp Đinh
Bính

Canh

Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ
Tân Tân Canh Quý Nhâm Ất Giáp Đinh Bính Kỷ
Mậu

Nhâm

Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân
Quý Quý Nhâm Ất Giáp Đinh Bính Kỷ Mậu Tân
Canh

Quy luật can ẩn tàng thiên can của địa chi

3 mảng lớn của địa chi là Tứ chính, Tứ mãnh là Tứ quý.

Tứ chính là Tý, Ngọ, Mão, Dậu: Can ẩn tàng đều là âm

Tứ mãnh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi: Can ẩn tàng đều là dương.

Tứ quý là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: Can ẩn tàng đều có âm có dương.

Bảng địa chi ẩn tàng Thiên can như sau:

Địa chi

Tý Sửu Dần
Mão

Thiên can ẩn tàng

Quý Kỷ Quý Tân Giáp – Bính – Mậu Ất
% lực lượng 100 60 30 10 60-30-10
100

Địa chi

Thìn Tỵ Ngọ
Mùi

Thiên can ẩn tàng

Mậu – Ất – Quý Bính – Mậu – Canh Đinh – Kỷ Kỷ – Đinh – Ất
% lực lượng 60 – 30 – 10 60 – 30 – 10 70 – 30
60 – 30 – 10

Địa chi

Thân Dậu Tuất
Hợi

Thiên can ẩn tàng

Canh – Nhâm – Mậu Tân Mậu – Tân – Đinh Nhâm – Giáp
% lực lượng 60 – 30 – 10 100 60 – 30 – 10
70 – 30

III. NHẬT CAN MẠNH YẾU
Trong bát tự, nhật trụ luôn giữ vai trò chủ đạo. Niên trụ làm gốc, nguyệt trụ làm thân, thời trụ làm phù tá. Lấy nhật trụ làm chủ đạo, xem nhật can vốn ở trạng thái vượng thịnh hay suy yếu, còn phải xem cách cục của Địa chi và thuộc tính Ngũ hành. Sau đó xem Ngũ hành nào trong nguyệt trụ vượng nhất, sau đó xem niên trụ vượng hay không. Ngoài ra còn phải kết hợp tình hình cụ thể. Ví như người sinh ngày Giáp Tý, trong tứ trụ có Thân, có thể kết hợp với Tý Thìn làm thành Thủy cục. Sau đó xem Thìn là bị tổn hại hay được ích lợi. Ngoài ra trong tứ trụ có nơi bị tổn hại hay không. Nếu dụng thần gặp phá hoại thì nhất định cần chế phục nó mà đừng làm tăng lợi ích cho nó.

Điều đó chứng tỏ, nhật can được coi là hạt nhân của toàn bộ mệnh cục. Vì thế nó được gọi là vua. Can chi khác dựa vào can chi tương phối với nó để đoán tốt xấu, do đó được gọi là bề tôi. Can chi là lớn mạnh hay suy nhược; đầu tiên nên so sánh với nguyệt lệnh. Mùa xuân là lúc Mộc vượng nhất, mùa hạ là lúc Hỏa vượng nhất, mùa thu là lúc Kim vượng nhất, mùa đông là lúc Thủy vượng nhất, Thổ vượng cả bốn mùa.

Âm dương cương hay nhu là nhìn từ góc độ toàn cục. Nhật trụ có can dương, các trụ khác có can âm tương phối với nó. Nhật trụ là can âm, trụ khác có can dương tương phối với nó. Đây chính là âm dương hài hòa, âm nhu tương thế. Nếu nhật trụ là can dương, trụ khác cũng là can dương thì là dương và dương kết hợp là cương. Nếu nhật trụ là can âm, trụ khác là can âm, tức âm và âm kết hợp là nhu. Cả hai là biểu hiện của âm dương mất cân bằng, dù có phát phúc phát quý cũng không được an bình. Dựa vào sự kết hợp mạnh yếu của nhật trụ và can chi tứ trụ, sau đó xác định rõ tốt xấu cuối cùng có thể luận đoán cát hung của mệnh cục. Từ đây, chúng ta có bảng như sau:

Nhật can

Mạnh Yếu
Nhật chi (lệnh tháng) Được lệnh tháng
Không được lệnh

Can chi khác trong trụ

Tương sinh Tương khắc
Tương trợ
Không tương trợ

IV. NHẬT CAN ĐƯỢC LỆNH THÁNG
12 cung trường sinh Ngũ hành là : Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Huyệt, Thai, Dưỡng. 12 cung này lần lượt đại biểu cho lịch trình sinh mệnh trong 12 tháng, chúng tuần hoàn qua lại, giống như vạn vật và con người trong giới tự nhiên, vì thế mà vòng tuần hoàn của 12 cung này cũng giống như sự biến đổi của sinh mệnh loài người. Liên quan đến 12 cung vì sao mà có tên như vậy, trong Tam mệnh đề yếu giải thích rằng: “12 cung Trường sinh Ngũ hành, thứ nhất là thụ khí, còn gọi là tuyệt, hoặc gọi là Thúy, lúc này vạn vật chưa thấy hình thể trên mặt đất, giống như khi bụng mẹ còn rỗng không, chưa thụ thai; thứ hai là thụ thai, lúc này trời cao đất giao cảm tương hội, vạn vật nảy mầm trên mặt đất và đã có sinh khí, chính như con người cảm nhận được khí của cha mẹ, sắp thành hình; thứ ba là thành hình, vạn vật có đầy đủ hình dạng ban đầu trên đất, giống như con người hoài thai trong bụng mẹ; thứ tư là Trường sinh, vạn vật tươi tốt phồn vinh, giống như người vừa mới sinh ra, sắp trưởng thành; thứ năm là Mộc dục, còn gọi là bại, vạn vật bắt đầu sinh trưởng, hình thể tương đối mềm yếu, dễ bị tổn hại, giống như người tắm sau khi mới sinh ra được ba ngày, rất dễ bị tổn thương; thứ sáu là Quan đới, vạn vật dần dần tươi tốt phồn thịnh, giống như người sắp trưởng thành, áo mũ chỉnh tề; thứ bảy là Lâm quan, vạn vật khai hoa kết quả, giống như người thi đỗ làm quan; thứ tám là Đế vượng, vạn vật thành thục, giống như người sự nghiệp có thành tựu; thứ chín là Suy, hình thể của vạn vật dần dần suy tàn, giống như người hơi thở suy nhược, từng bước tiến đến già yếu; thứ mười là Bệnh, giống như người lúc sinh bệnh; mười một là Tử, vạn vật tử vong, giống như người lúc qua đời; mười hai là Mộ, còn gọi là khố, vạn vật công thành, thu chứa vào kho, giống như người sau khi qua đời thì nhập mộ. Vạn vật sau khi quy mộ lại một lần nữa tiếp thụ khí của trời đất, dần hình thành bào thai, lại được tái sinh, sinh tử luân hồi lại bắt đầu”.

Ngũ hành của nhật can và 12 cung của nguyệt chi

12 cung Trường sinh là căn cứ quan trọng để đoán mệnh, dùng nhật can trong tứ trụ để đối chiếu nguyệt chi có thể tìm ra trạng thái sinh mệnh trong 12 cung của nguyệt chi, phương pháp đoán mênh này được sử dụng phổ biến. Quan hệ đối ứng của 12 cung nhật can Ngũ hành và nguyệt chi xem bảng dưới.

Bảng đối chiếu 12 cung nhật can Ngũ hành và nguyệt chi

12 cung

5 can dương thuận hành 5 can âm nghịch hành
Giáp mộc Nhâm thủy Canh kim Mậu thổ Bính hỏa Ất mộc Đinh hỏa Kỷ thổ Tân kim
Quý thủy

Trường sinh

Hợi Thân Tỵ Dần Dần Ngọ Dậu Dậu Tý Mão
Mộc dục Tý Dậu Ngọ Mão Mão Tỵ Thân Thân Hợi
Dần

Quan đới

Sửu Tuất Mùi Thìn Thìn Thìn Mùi Mùi Tuất Sửu
Lâm quan Dần Hợi Thân Tỵ Tỵ Mão Ngọ Ngọ Dậu

Đế vượng

Mão Tý Dậu Ngọ Ngọ Dần Tỵ Tỵ Thân Hợi
Suy Thìn Sửu Tuất Mùi Mùi Sửu Thìn Thìn Mùi
Tuất

Bệnh

Tỵ Dần Hợi Thân Thân Tý Mão Mão Ngọ Dậu
Tử Ngọ Mão Tý Dậu Dậu Hợi Dần Dần Tý
Thân

Mộ

Mùi Thìn Sửu Tuất Tuất Tuất Sửu Sửu Thìn Mùi
Tuyệt Thân Tỵ Dần Hợi Hợi Dậu Tý Tý Mão
Ngọ

Thai

Dậu Ngọ Mão Tý Tý Thân Hợi Hợi Dần Tỵ
Dưỡng Tuất Mùi Thìn Sửu Sửu Mùi Tuất Tuất Sửu
Thìn

Ví dụ:

Nhật can của ngày sinh là Giáp Mộc, nguyệt chi sinh ngày sinh là hợi, Giáp Mộc ở vào cung Trường sinh phát triển mạnh mẽ.

Nhật can của ngày sinh là Ất Mộc, Nguyệt chi ngày sinh là tháng hợi, Ất Mộc ở vào cung Tử, vạn vật bị chết đi.

Nhiều nhà luận đoán mệnh dùng những kết quả này để suy đoán vận mệnh tính cách của con người, như có người cho rằng người ở cung trường sinh thì trung hậu, lương thiện, viên mãn, nhân duyên tốt…, nhưng không nên làm lãnh đạo, người ở cung Tử thì nóng vội, do dự, dễ bị liên lụy.

Sự biến đổi của vạn vật trên thế giới, sinh vượng không nhất định là cát lợi, gặp hưu tù tử tuyệt cũng không nhất định là hung họa. Giả sử như thịnh vượng thái quá thì nên dùng vật khác để khắc chế trấn áp, giả như là tử tuyệt, hoặc không đủ vượng thì nên mượn vật khác để phù trợ bổ cứu, sự kỳ diệu trong đó chính là sự kỳ diệu của tùy cơ ứng biến. Phép xem mệnh thời cổ cho rằng, Thai, Sinh, Vượng, Khố là tứ quý. Tử, Tuyệt, Bệnh, Bại là tứ kỵ. 4 cung còn lại là tứ bình, không quý cũng không kỵ.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *